Thứ Hai, 20 tháng 7, 2015

Cách đây ít lâu, tôi có dịp gặp ông Robert Mayard Hutchinson, Hiệu trưởng Đại Học đường Chicago. Lẽ cố nhiên, trong lúc nói chuyện, tôi hỏi ông làm cách nào cho khỏi buồn bực. Ông nói bao giờ ông cũng theo lời khuyên bảo của ông bạn Julius Rosenwald, Chủ tịch một xí nghiệp lớn: Định mệnh chỉ cho ta một trái chanh thôi? Được- Ta hãy pha một ly nước chanh.

Phải là một người thông minh, một nhà mô phạm như ông mới có thể xử sự như vậy. Những kẻ ngu ngốc tất phải làm khác hẳn, vì nếu không được định mệnh ban cho một thỏi vàng mà chỉ ban cho một trái chanh, họ sẽ ngồi phịch xuống mà ta thán. Nào: “Còn hòng gì, còn trầy da tróc vẩy làm gì nữa” nào: “thế là hết hy vọng”. Rồi oán trời, trách bạn, vò tai kêu đời bất công, thương thân tủi phận. Trái lại, người khôn ngoan, khi thấy mình chỉ được vỏn vẹn một trái chanh nhỏ, sẽ tự nhủ: “Lần thất bại này dạy ta nhiều nhiều hay lắm đấy. Phải làm thế nào cho tình cảm khá hơn bây giờ? Làm cách nào để đổi trái chanh này thành ly nước chanh ngon ngọt chứ?”.

Nhà triết lý học Alfred Adler, trọn đời chuyện chú vào công cuộc nghiên cứu những kho tiềm lực nhân loại đã phải nói rằng: “Một trong những đức tính kỳ diệu của con người là ý chí chuyển bại thành thắng”.

Tôi xin kể chuyện một người đàn bà đã hiểu và áp dụng phương pháp lấy trái chanh của mình pha thành một ly nước chanh tuyệt ngọt. Đó là chuyện của bà Theha Thompson ở Nữu Ước.

“Trong thời kỳ chiến tranh, chồng bà được bổ nhiệm đến trại huấn luyện, kế bãi sa mạc Mojave thuộc Tâm Mễ Tây Cơ. Bà theo săn sóc chồng. Thật là buồn nản. Ngay này đầu, bà đã ghét vùng này, vì chưa bao giờ bà phải ở một xó đất khổ cực đến thế. Chồng bà suốt ngày lủi thủi trong căn nhà gỗ lụp xụp. Trời thì nóng gần 50 bộ. Bà chẳng có ai ở gần đền nói chuyện cho khuây khoả, ngoài mấy người Mễ Tây Cơ và người da đỏ không biết lấy một câu tiếng Anh. Gió nóng thổi suốt từ sáng đến chiều, khiến cho đồ ăn và cả đến không khí đầy vị cát.

Bà không chịu nổi nữa. Bà than số phận chẳng ra gì và viết thơ cho cha mẹ sẽ quay về Nữu Ước, không thể ở lại cái địa ngục này. Ông cụ thân sinh trả lời vỏn vẹn có hai câu, nhưng thấm thía đến nỗi bà không bao giờ quên được, và hai câu đó thay đổi hẳn đời sống của bà:

Trong một nhà tù, hai người cùng đứng vịn tay vào song sắt; một người chỉ trông thấy một bức tường trơ trụi, còn một người ngửa mặt lên trời, ngắm những vì sao.

Bà đọc những dòng này một lần, hai lần cho đến mười lần rồi tự nhiên thấy hổ thẹn. Bà quyết sẽ tìm cái vui trong tình cảm của bà: bà quyết ngắm sao.

Bà làm thân với thổ dân và đã ngạc nhiên trước cách họ đối lại. Khi bà tỏ ra thích cái gì, món ăn hay vải dệt, họ lập tức mang biết bà những thứ tốt nhất mà chính họ đã từ chối không bán cho các du khách hỏi mua. Bà nghiên cứu những hình thức lạ lùng của cây xương rồng, cây ngọc giá hoa. bà dò xét những cử động, nhưng tính nết của lũ chó vô chử, bà đứng hàng guiwof ngắm mặt trời lặn, huy hoàng và rực rỡ ở bãi sa mạc, bà đi kiếm và tàng trữ những vỏ hến bị vùi sâu dưới cát hàng triệu năm trước, nhưng di tích cuối cùng của thời kỳ mà bãi sa mạc này còn là đáy biển.

Bãi sa mạc không thay đổi, những người da đỏ cũng vậy. Chính bà đã thay đổi, hay nói đúng hơn, tinh thần của bà đã thay đổi, tạo cho bà một thời kỳ thú vị nhất trong đời bà. Cái thế giới bà khám phá ra kích thích bà viết một cuốn sách tả nó.

Bà đã biết nhìn qua song sắt nhà tù và bà đã biết ngắm sao lóng lánh trên trời”.

Bà Thehna Thomas đã khám phá ra một sự thực nghìn xưa, đã được dân Hy Lạp đem ra dạy đời, 500 năm trước Thiên Chúa Giáo giáng sinh: “Những cái gì hoàn hảo nhất là những cái khó được nhất”.


Cách đây mấy năm, khi tới một vùng hẻo lánh miền Floride, tôi đã làm quen với một trịa chủ. ÔNg ta cũng biết pha một ly nước ngon bằng trai chanh độc., Khi lần đầu thấy khoảng đất mới đã mua được, ông hết sức thất vọng. Đất không màu, trông cây không được mà nuôi heo cũng không được. Chằng cây nào mọc được ở đó, ngoài một cây sồi quắt queo và chẳng vật nào sống ở đó được, trừ hàng đàn rắn độc. Sau ông nghĩ ra một cách làm cho cái khu đất cằn cỗi, phải chủ ấy thành một xí nghiệp phồn thịnh; ông nuôn rắn làm thịt, đóng hộp bán. Lần tới thăm ông, tôi nhận thấy mỗi năm có đến hai vạn du khách đến xem sở nuôi rắn của ông. Công cuộc buôn bán thật là phát đạt. Mỗi tuần, hàng ngàn lo mọc rắn được gởi đi đến những phòng thí nghiệm chuyên môn chế thuốc viên trư nọc rắn độc; da rắn được mia với giá cắt cổ để đóng giày, làm ví bán cho các bà các cố sang trong ở tỉnh thành; còn thịt rắn đóng hộp thì được gởi từng tàu đến những thị trường ở khắp nơi. Tôi có mia được một tấm hình chụp các nhà trong trại, cái làng nhở mới mọc, hãng diện với caí tên “Serphentville, Froride” và gởi nó để biếu người đã biết cách pha một ly nước ngon bằng một trái chanh thật độc.

Trong cuộc tra cứu tâm lý những nhân vật hiện tại và quá khứ của Hoa Kỳ; tôi may mắn gặp được nhiều người đã biết cách “chuyển bại thành thắng”.

Ông William Bolitho, tác giả cuốn “Mười hai người thắng Thần” tóm tắt nguyên tắc trên này như vầy: “Điều cần thiết ở đời là không phải biết lợi dụng những thất thế mới là điều cần thiết. Muốn được vậy, phải thông minh và chính cái thiên tư đó phân biệt khôn với kẻ ngốc.”

ÔNg Bolitho viết câu ấy sau khi bị cưa một chân vì ta nạn xe lửa. Nhưng tôi lại biết một ngừơi mất cả hai chân mà còn thành công trong việc chuyển bất lợi thành thắng lợi:

Ông Ben Fortson. Tôi quen ông tại Atlanta (tiểu bang Georgie) nơi khách sạn tôi ở. Bước vào thang máy, tôi để ý ngay tới vẻ mãn nguyện và vui cười trên mặt ông. Ông cụt cả hai chân, ngồi trong góc thang máy trên cái ghế có bánh xe. Khi thang ngừng ở một từng nọ, ông xin tôi tránh lối cho ông đẩy ghế ra: “Xin lỗi ông, tôi làm phiền ông quá”.

ÔNg nói thế, rồi nhếch mép cười, một cái cười hớn hở, đầy nhân hậu.

Suốt mấu giờ liền, tôi cứ nghĩ đến con người tàn tật mà vẻ tự mãn đã lộ ra mặt như vậy. ÔNg vui vẻ thuật lại không chút ngượng ngiụ miệng thỉnh thoảng lại điểm một nụ cười.

Ông gặp tai nạn vào năm 24 tuổi. Một hôm đi chặt những cây sào để về chông dàn đậu, khi chất những cây sào này trên chiếc xe hơi Ford kiểu cổ xong đâu đấy, ông mở máy quay về, thì bỗng một cây sào tuột xuống gầm xe, mắc vào trục bánh lái làm chết cứng tay bánh ngay lúc xe tới một chỗ quẹo khá hẹp. Chiếc xe cứ thế chạy thẳng lên lề cỏ và đâm vào một gốc cây. Bác sĩ khám nghiệm thấy ông bị thương nặng ở xương sống làm hai chân ông liệt hẳn. Từ đó ông muốn tự động phải ngồi trên chiếc ghế có bánh xe.

Tôi hỏi ông làm sao mà chịu đựng tình thế một cách cam đảm như vậy, ông đáp: “Mới đầu tôi cũng khổ lắm, tôi cũng kêu than, cũng thất vọng. Nhưng dần dà năm này qua năm khác, tôi nhận thấy rằng tức giận cũng chẳng ích gì, chỉ thêm chán nản. Những người chung quanh tôi trìu mến những người tàn tật như tôi, thì ít ra tôi cũng phải trìu mến lại họ chứ!”.

Khi tôi hỏi ông còn coi nạn kia là một tai hại lớn không ông lập tức đáp không và còn cho đó là một diễm phúc nữa.

Ông giải thích rằng qua thời kỳ đau khổ, ông trấn tĩnh tinh thần và bắt đầu sống trong một thế giới mới. Ông đọc sách và ham mê những áng văn hay.

Mười bốn năm sau, hơn một ngàn cuốn sách đã mở mắt ông trước những chân trời mới và mang thi vị lại cho đời ông. Ngoài ra, ông lại bắt đầu chú trọng tới âm nhạc cổ điển và ông thấy lòng rung động nghe những hoà tấu khúc mà trước kia ông không ưa. Nhất là ông lại có thì giờ suy tưởng. Ông nói rằng: “Lần đầu tiên tôi biết nhìn thế giới bằng con mắt của người thông minh, hay hơn nữa, của một triết gia và cũng lần đầu tôi thấy chân giá trị của mọi vật. Tôi bắt đầu hiểu rằng nhiều mục đích tôi theo đuổi từ trước chẳng bõ công chút nào hết”.

Ông đọc sách và nhiễm được thú nghiên cứu những vấn đề chính trị kinh tế và xã hội. Ông khổ công tra cứu đến nỗi chẳng thấy mấy lúc ông đã có thể diễn thuyệt và thảo luận về những vấn đề đó, dù không lúc nào ông rời chiếc ghế có bánh xe. Ông bắt đầu quen nhiều người, và nhiều người cũng bắt đầu biết ông. Và nay ông Ben Fortson, người tàn tật ấy, là Thống đốc của Tiểu Bang Georrgie!

Ba mươi lăm năm làm nghề dạy người lớn ở Nữu Ước, tôi nhận thấy một phần đông học trò của tôi tiếc đã không được xuất thân do một Đại học đường. Họ cho rằng không được mài đũng quần ghế một Đại Học đường là một điều bất lợi. Điều đó chỉ đúng một phần thôi vì tôi biết nhiều người địa vị rất cao mà không hề đặt chân vào một trường Đại Học. Vì vậy, nhiều lần tôi kể cho họ nghe chuyện một ông không được học hết những lớp sơ đẳng trường làng mà cũng nên danh. Ông là con một nhà cực nghèo. Khi cha ông qua đời, các bạn bè phải góp tiền lại mua giúp cho cỗ quan tài. Còn mẹ ông phải đi làm mười giờ một ngày tại một xưởng máy chế dù. Không những vậy, bà lại còn đem việc về nhà làm thêm đến tận nửa đêm.

Tuy sinh sống trong cảnh bần bàn, nhưng từ nhỏ, ông đã rất ham mê đóng kịch. Ông gia nhập một gánh hát tài tử do linh mục làng ông điều khiển. Mặc dầu duễn trước một số công chúng ít ỏi, nhưng được trầm trồ khen ngợi, ông cũng cảm thấy khoái trá mênh mông, nên nhất định sẽ trở thành một diễn giả. Rồi từ một diễn giả về những vấn đề thuộc kịch trường, ông trở thành một diễn giả về những vấn đề chính trị. Năm ba mươi tuổi, ông được cử vào Hội đồng lập pháp Tiểu bang Nữu Ước. Nhưng sức học quá thô thiển của ông không xứng với một địa vị khó khăn như vậy. ÔNg phải nghiên cứu tỉ mỉ những bản tài liệu dài và phức tạp khả dĩ đủ hiểu để biết đường mà biểu diễn quyết chống hay thuật. Khi người ta bầu ông vào Uỷ ban kiểm lâm, ông, một người chưa bao giờ trông thấy rừng tất lo sợ. Ông lại ngạc nhiên hơn nữa khi ông biết chút gì về ngành tài chính. Ông thú thật với tôi hồi đó ông chán nản đến nỗi muốn xin từ chức ngay, nếu ông khong sợ xấu hổ với mẹ.

Qua cơn thất vọng, ông quyết học 16 giờ một ngày và làm một ly nước ngon bằng quả chanh mà định mệnh đã đưa lại. Thế rồi ông thành công, thành công quá tưởng tượng: từ một chính trị gia còm của địa phương, ông đã trở thành một trong những nhân vật có tiếng nhất Hoa Kỳ, một người mà Nữu Ước thời báo đã gọi là “Công dân thành phố Nữu Ước được nhiều người yêu chuộc nhất”.

Người tôi nói tới đây là ông Al Smith, đã giữ chức Thống đốc Tiểu bang Nữu Ước trong bốn nhiệm kỳ liền, một việc tiền khoáng hậy trong lịch sử xứ này. Nắm 1928, khi ông đang làm ứng cử viên của đảng dân chủ trong cuộc tuyển cử Tổng thống, sáu Đại học đường- trong số đó có hai Đại học đường Columbia và Harward – đã ban những bằng danh dự cao nhất cho ông một người chưa học hết cấp sơ đẳng!

Chính ông đã phải công nhận rằng chẳng làm nên công chuyện gì nếu đã không học mười sáu giờ một ngày để bù lấp sự thấp kém của mình.

Ông Nietzche đã định nghĩa ” một người lý tưởng” là: “người khi bị định mạng thử thách, không những đã tỏ ra xuất chúng, mà thời thướng còn thích tìm khó khăn và những trở lực để đương đầu”.
Càng nghiên cứu về sự nghiệp những nhân vật tài ba, tôi càng tìm thấy những bằng chứng cho sự tin tưởng cảu tôi rằng phần đông những nhân vật này sở dĩ hơn người, là vì họ ra đời với một điểm bất lợi mà chính điểm bất lợi đó đã kích thích họ cố gắng một cách khác thể đạt tới những mục đích cao cả. Ông William James đã nói: “Những nhược điểm của ta giúp ta một cách không ngờ”.

Nếu không bị loà, rất có thể ông Milton chỉ thành một thi sĩ làng nhàng, chớ không phải là thi sĩ đại tài như ngày nay, và cũng rất có thể Beethoven đã không đi tới chỗ tuyệt đối của âm nhạc, nếu ông không điếc.

Sự nghiệp hiển vinh của Helène Keller khác hẳn nhờ vì bà vừa mùa vừa điếc.

Nếu Tchaikovsky không bị định mạng cướp mất hạnh phúc, nếu ông không gặp phải người vợ đa nghi, hay thù oán, loại thần kinh có lẽ chẳng bao giờ ông sáng tác được bản nhạc “Symphonie pathétique”, ngàn năm bất diệt.

Dostoiesky và Tolstoi cũng vậy, nếu đời sống của hai ông không đầy rẫy những đau thương, chưa chắc những tác phẩm tuyệt diệu của hai ông đã ra đời.

Charles Darwin, người có những lý thuyết táo tợn đã đảo ngược cả quan niệm khoa học về đời sống ở thế gian này, đã tuyên bố rõ rệt rằng sự tàn tật của ông đã giúp ông một cách bất ngờ. Ông nói: “Nếu thân tôi không là cái xác vô dụng, chưa chắc tôi đã có sức mạnh tinh thần để biểu mình những lý thuyết của tôi”.

Cùng một ngày Darwin sinh ra một túp lều không ai biết đến, ở khu rừng rậm thuộc tiểu bang Kentucky, một đưa nhỏ khác cũng cần cất tiếng chào đời. Cha đứa nhỏ này là lão tiều phu nghèo khó Lincoln, và đưa nhỏ được đặt tên là Abraham. Chính đứa nhỏ này cũng vì khổ cực mà đã sống gắng tự rèn luyện để trở nên người. Nếu Abraham Lincoln sinh vào một gia đình quý phái, được vào học tại Đại học đường Harvard, được hưởng một lạc thú gia đình hoàn toàn, có lẽ ông đã chẳng thốt ra những lợi nhiệt thành, tự đáy lòng, khi ông tái cử Tổng Thống Hoa Kỳ: “Tôi sẽ cố không xử ác với bất cứ ai và sẽ đại lượng, bác ái với mọi người”.

Đến đây, ta hãy ngừng lại và rút bài luân lý thực hành của những trường hợp kể trên. Nếu chưa bao giờ bạn làm được ly nước ngon lành bằng trái chanh số phận đã mang lại, thì bạn cũng thử xem nào? Bạn hãy cố gắng, vì rủi có thua, bạn cũng chẳng mất gì, nhưng nếu được thì bạn sẽ vô cùng hạnh phúc.

Bạn phải cố gắng vì hai lẽ: một là ít ra bạn còn có cơ thành công, hai là dù thất bại đi chăng nữa, sự cố gắng của bạn để chuyển bại thành thắng đã bắt bạn nhìn thẳng vào tương lai mà quên đi dĩ vãng. Bạn sẽ có những lý tưởng thiết thực và nghị lực sáng tác sẽ trỗi dậy kích thích bạn làm việc, đến nỗi bạn không còn thì giờ mà nghĩ vơ vẩn, bới đống tro tàn của thời qua.

Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2015

Quà Tặng Cuộc Sống là tập hợp những câu chuyện đầy tính nhân văn và xúc động về những chân lý trong cuộc sống mà chúng ta thường vô tình lướt qua. Từ những câu chuyện này người xem sẽ rút ra được nhiều bài học sâu sắc cũng như nhận ra nhiều giá trị tinh thần quý giá, từ đó thêm yêu và trân trọng cuộc sống.



Quà Tặng Cuộc Sống là tập hợp những câu chuyện đầy tính nhân văn và xúc động về những chân lý trong cuộc sống mà chúng ta thường vô tình lướt qua. Từ những câu chuyện này người xem sẽ rút ra được nhiều bài học sâu sắc cũng như nhận ra nhiều giá trị tinh thần quý giá, từ đó thêm yêu và trân trọng cuộc sống.



Quà Tặng Cuộc Sống là tập hợp những câu chuyện đầy tính nhân văn và xúc động về những chân lý trong cuộc sống mà chúng ta thường vô tình lướt qua. Từ những câu chuyện này người xem sẽ rút ra được nhiều bài học sâu sắc cũng như nhận ra nhiều giá trị tinh thần quý giá, từ đó thêm yêu và trân trọng cuộc sống.




Quà Tặng Cuộc Sống là tập hợp những câu chuyện đầy tính nhân văn và xúc động về những chân lý trong cuộc sống mà chúng ta thường vô tình lướt qua. Từ những câu chuyện này người xem sẽ rút ra được nhiều bài học sâu sắc cũng như nhận ra nhiều giá trị tinh thần quý giá, từ đó thêm yêu và trân trọng cuộc sống.



Tôi mang trái tim đau ê ẩm trở về, không phải vì cô ấy hết yêu tôi hay vì tôi hết yêu cô ấy. Chúng tôi chỉ là hai người yêu nhau nhưng lại nhìn về hai hướng khác nhau mà thôi!


Tôi không nói: “Anh sẽ chờ em” nữa. Tôi không dám hứa một việc mà mình không chắc làm được. 

Lấy anh nhé?

Tôi là một thằng đàn ông có trách nhiệm, yêu Mai, làm chuyện đó với cô ấy, thì cưới cô ấy là việc phải làm.

Bàn tay đang cài khuy áo của Mai khựng lại một nhịp rồi lại tiếp tục cài những khuy áo khác. Tôi nghe thấy cô ấy cười khe khẽ và đáp:

- Mới năm ba, còn sớm quá để nói chuyện kết hôn. Anh yên tâm, em sẽ chịu trách nhiệm đời anh!

Tôi phì cười, đây là câu mà một cô gái nên nói sau khi mất đi lần đầu tiên sao?

Mai luôn thế, luôn tự tin một cách kỳ lạ. Chúng tôi cũng đã yêu nhau ba năm rồi. Tôi luôn có cảm giác không nắm bắt được cô ấy, nhưng vẫn tự cho rằng đó chỉ là cảm nhận chủ quan của tôi mà thôi. Tôi vẫn tin rằng, khi chúng tôi ra trường, việc đầu tiên tôi làm là cưới cô ấy về làm vợ. Tôi vẫn giữ quyết định ấy, chỉ tiếc rằng tôi học Bách Khoa năm năm, còn cô ấy học Y Tế Công Cộng bốn năm. Cô ấy ra trường trước tôi một năm và đã không giữ lời hứa sẽ “chịu trách nhiệm” cho cuộc đời tôi.

Mai nói:

- Xin lỗi anh! Lấy anh thì em sẽ không vất vả nhưng bố mẹ và các em em sẽ khổ.

Đằng sau Mai là ba đứa em, một đứa năm nay vừa lên đại học và hai đứa học cấp ba. Bố mẹ cô ấy đều nhiều tuổi rồi. Bố mẹ tôi có thể chấp nhận việc để tôi vừa ra trường và kết hôn với một đứa con gái ngoại tỉnh nhưng họ có thể chấp nhận được việc phải bỏ tiền túi ra nuôi báo cô ba đứa em của con dâu không? Tôi và cô ấy, một người còn chưa học xong, một người thì vừa ra trường có thể kiếm nổi tiền để chu cấp cho gia đình cô ấy không?


Mai đi theo học bổng của một tổ chức phi chính phủ và sang Nhật du học. Sau khi sang Nhật được nửa năm cô ấy đã tìm được việc làm thêm, cộng với tiết kiệm tiền học bổng gửi về nuôi ba đứa em ăn học. Cô ấy chọn chịu trách nhiệm với gia đình chứ không chọn chịu trách nhiệm cho tôi – người đã yêu cô ấy và cô ấy đã yêu gần bốn năm.

Tôi không giận vì lựa chọn ra đi của Mai, tôi chỉ giận vì cô ấy nói: “Đừng chờ em!” Khi mà tôi biết rằng cô ấy còn yêu tôi và tôi còn yêu cô ấy.

Một năm sau, tôi ra trường. Con bạn thân của cả tôi và cô ấy hẹn gặp tôi. Nhỏ đó nói:

- Ông định cứ thế này sao?

Tôi im lặng. Phải biết trả lời thế nào đây?

Nhỏ bạn nhét vào tay tôi một gói giấy nhỏ. Tôi mở ra, trong đó có mười tờ polime năm trăm nghìn. Tôi khó hiểu nhìn nó.

- Hiện giờ tôi có thế thôi, ông làm hộ chiếu với visa trước đi. Tôi sẽ tìm cách kiếm thêm tiền đưa ông.

Tôi lại càng tròn mắt nhìn con bạn thân.

- Nhỏ Mai nó không chịu về thì ông phải qua đó. Hai người định cứ thế mà kết thúc sao? Đã một năm rồi đấy. Chương trình học của nó còn chín tháng nữa là xong, nó cũng đang phân vân có ký hợp đồng làm việc và ở lại Nhật không. Ông phải đi bây giờ nếu ông còn muốn giữ nó lại. Ông ra trường rồi, hai người cùng làm việc thì sẽ có thể giải quyết khó khăn…

Nhỏ bạn còn nói gì đó nhiều lắm, nhưng tôi chỉ nghe được mỗi một câu “Nhỏ Mai nó không chịu về thì ông phải qua đó.” Đúng rồi, sao tôi lại thụ động đến như thế nhỉ? Cô ấy đi rồi, chẳng nhẽ tôi không biết mà đi tìm cô ấy sao?

Cầm năm triệu trong tay, tôi có chút buồn cười, có ai sang Nhật chỉ với năm triệu không? Nhưng tôi biết đó là sự cố gắng của con bạn thân rồi. Nhỏ cũng vừa ra trường, mới đi làm được ba tháng. Năm triệu này e rằng là tiền lương thử việc ba tháng qua của nó. Sống mũi tôi có chút cay cay, tôi nói thầm: Mai à, em thấy không, bạn trai em tốt đến thế, bạn thân của chúng ta cũng tuyệt như vậy, tại làm sao em lại muốn ở lại cái xứ Phù Tang ấy?

Tôi không từ chối số tiền nhỏ bạn đưa, đó là tâm ý của nó, không nhận nó sẽ giận, hơn nữa tôi cũng cần tiền thật. Tôi bán xe máy, bán laptop, bán điện thoại, xin visa du lịch đi Nhật, đặt vé máy bay. Bố mẹ tôi mà biết tôi làm chuyện này hẳn sẽ mắng tôi tơi bời đây, thế nên tôi giấu kín, chỉ tìm đến người duy nhất ủng hộ tôi.

Nhỏ bạn đưa cho tôi một cái thẻ tín dụng ngân hàng, nó bảo:

- Thẻ này ghi nợ được hai mươi triệu, nếu cần thì rút ra nhé! Tôi chỉ giúp ông được một chút tiền thế này thôi, ông phải cố gắng mà lôi con nhỏ Mai về đấy. Tôi ở nhà đợi tin ông.

Tôi lên máy bay, cầm theo cái thẻ tín dụng của nhỏ bạn. Thứ con bạn thân giúp tôi không chỉ là một chút tiền, mà còn là chỗ dựa tinh thần cho tôi. Nếu không có nhỏ bạn này, tôi không biết mình sẽ chần chừ đến ngày nào, năm nào mới đi tìm cô ấy.


Trời Osaka tháng mười hai, lạnh kinh người. Đôi giày thể thao của tôi là loại giày vải không thích hợp đi trên tuyết, thế nên nó nhanh chóng bị thấm ướt khiến bàn chân tôi lạnh tê tái. Tôi co ro đứng trước cửa ra vào ký túc xá khoa Public Health (Y tế công cộng) của trường đại học Osaka. Trông tôi rất bắt mắt vì tôi đang quàng một cái khăn màu xanh nõn chuối, quấn hai vòng quanh cổ mà đuôi khăn còn dài chấm gối. Nhỏ bạn đã nói:

- Ông quàng cái khăn này chờ nó, nếu nó mà không cảm động thì tôi đi đầu xuống đất.

Cái khăn này là cô ấy đan cho tôi. Đó là lần đầu tiên cô ấy học đan – một trong những việc mà cô ấy cho rằng nhạt nhẽo và vô cùng tốn thời gian. Vậy mà vì tôi đòi một cái khăn đan tay nên cô ấy đã học đan. Có điều như thể muốn “báo thù” vì tôi khiến cô ấy mất thời gian rảnh cả tháng để đan khăn nên cô ấy cố tình chọn cái màu nõn chuối chói mắt này đan khăn cho tôi. Rất may, cô ấy chỉ đưa nó cho tôi chứ chưa bao giờ bắt tôi quàng nó. Có điều mãi sau này tôi mới biết ẩn ý thực sự của việc con bạn thân bắt tôi quàng cái khăn này. Nhỏ đó, khi nhìn thấy cái khăn kinh khủng này, đã từng nói với cô ấy rằng:

- Mai à, nếu Phong nó dám quàng cái khăn này đứng chờ bà ở trước cổng trường, thì đời này, kiếp này bà không cần phải thử thách tình yêu cũng như sự chung thủy của hắn nữa.

Mặc dù tôi không đứng chờ ở cổng trường mà chờ ở cổng ký túc xá nhưng dường như hiệu quả không giảm đi tí nào thì phải. Mai thấy tôi từ xa, nhận ra tôi ngay giữa đám người áo bông to xụ sù sì vì chiếc khăn chói mắt này. Cô ấy chạy tới, ôm chầm lấy tôi, và khóc. Đó là lần đầu tiên tôi thấy cô ấy khóc.
Mai luôn kiên cường như thế, nhưng trái tim vẫn có lúc mềm yếu, nhất là với người cô ấy yêu - là tôi.

Bạn cùng phòng của Mai rất tốt bụng, dọn đồ tới ở cùng bạn trai, nhường chỗ cho tôi và cô ấy. Visa du lịch của tôi chỉ có một tuần, nên tôi vô cùng muốn tận dụng thời gian ở bên Mai. Nhưng sau một đêm cuồng nhiệt thỏa nỗi nhớ mong của cả hai, buổi sáng hôm sau chỉ có mình tôi nằm lại trên giường, phần giường còn lại đã lạnh ngắt.


Tôi với tay giật tờ giấy dán ở bàn trang điểm.

“Anh uống tạm sữa nhé, đói thì ra khỏi kí túc xá, băng qua đường là có cửa hàng tiện lợi. Mua tạm cái gì ăn. Em có giờ học cả ngày, tối còn có việc làm thêm. Khoảng chín giờ tối em mới về.”


Đồng hồ trên bàn chỉ chín giờ. Tôi phải đợi mười hai tiếng nữa Mai mới về ư?

Tôi tự mình đi dạo một vòng quanh ký túc xá, rồi đi xa hơn một chút tìm được một siêu thị. Một thằng vụng về như tôi vì Mai mà vào bếp ba tiếng đồng hồ. Đồ nấu ra hơi khó ăn, tôi đổ lỗi vì nguyên liệu nấu ăn của Nhật dở tệ.

Mai trở về, cười ngọt ngào với tôi. Đồ ăn khó nuốt, nhưng cô ấy vẫn vui vẻ ăn hết. Chỉ có điều, khi tôi ôm Mai, thủ thỉ nói được mấy câu, cô ấy đã ngủ gật trong vòng tay tôi, lay gọi thế nào cũng không dậy. Tôi biết Mai rất mệt, đành đắp chăn cho cô ấy rồi ngồi thừ một góc nhìn cô ấy ngủ. Ba giờ sáng tôi mới chui vào chăn.

Sáng ngày hôm sau, thứ chào buổi sáng tôi lại là mảnh giấy dán ở bàn trang điểm.

Tôi muốn Mai bất ngờ vì sự xuất hiện của tôi nên tới mà không báo trước, nhưng cũng vì thế mà cô ấy không thể sắp xếp được việc học và làm thêm của mình. Một ngày đối với Mai đã quá nhiều vất vả mệt mỏi, sự xuất hiện của tôi dường như còn tranh nốt chút thời gian thảnh thơi duy nhất trong ngày của cô ấy.


Tôi ở Nhật bảy ngày, thì sáu ngày tôi dậy mà không thấy Mai, cả ngày ngồi ngốc đợi cô ấy trở về. Vừa giận, vừa muốn trách cứ, nhưng nhìn vào đôi mắt mỏi mệt của Mai, lời nào tôi cũng không nói ra được.

Ngày cuối cùng tôi ở Nhật. Mai xin nghỉ một buổi làm thêm và trốn một buổi học nên chúng tôi có chút thời gian bên nhau. Mai dẫn tôi đi trượt băng. Cô ấy trượt rất tốt, cô ấy nói vì mùa đông năm ngoái rảnh nên có tập một chút. Tôi trượt patin cũng tốt nhưng lại không biết patin và trượt băng lại khác nhau đến thế. Sau khi đập mông hai lần xuống sàn băng, tôi phát hiện ra sàn bê tông còn mềm mại hơn sàn băng. Tôi nhăn nhó quyết định đứng ngoài xem.

Máy ảnh tôi nháy liên hồi theo bước trượt của Mai. Đột nhiên tay tôi khựng lại không thể chụp thêm được tấm nào nữa. Tôi nhận ra Mai không còn là cô gái nhỏ run rẩy không đứng vững trên sàn trượt patin, tay không dám buông khỏi tôi nữa. Cô ấy đã trượt xa khỏi vòng tay của tôi rồi. Còn tôi thì sao?

Trước khi lên máy bay, tôi hỏi Mai:

- Học xong, em về chứ? Anh đợi em!

Mai nhìn tôi bằng ánh mắt bối rối.

- Sang năm… sang năm, ba đứa nhỏ đều đang học đại học. Em… em…

Đứa em út của cô ấy sang năm cũng vào đại học, mà đứa đầu tiên còn chưa tốt nghiệp. Tôi thấy miệng mình đắng chát.

- Con bạn thân nhất của em nói, bên này đề nghị em ký hợp đồng sau khi ra trường ở lại làm việc, đúng không?

Ánh mắt cô ấy còn bối rối hơn.

- Xin lỗi anh, hợp đồng năm năm…


Thế đấy, tôi đã tới đây, đã cố gắng níu kéo, nhưng Mai vẫn chọn ở lại đây với cái hợp đồng năm năm của cô ấy. Tôi không giữ được bình tĩnh, giật tay ra khỏi tay Mai, kéo hành lý đi. Cô ấy vội vàng níu tay tôi lại. Tôi nhìn thấy đôi mắt Mai đỏ hoe. Yêu nhau bao nhiêu năm, cô ấy chưa từng khóc, kể cả lần cô ấy nói: "Đừng đợi em!". Vậy mà chỉ một tuần này thôi, cô ấy đã khóc, khóc những hai lần!

- Phong, giáo sư của em nói, trung tâm nghiên cứu của ông ấy còn trống một vị trí kỹ sư công nghệ thông tin, em đã đưa CV của anh cho ông ấy, anh xem…

Tôi lặng người đi một lúc lâu. Đằng sau cô ấy là ba đứa em thơ dại, còn đằng sau tôi cũng còn bố mẹ tôi. Tôi là đứa con duy nhất của họ. Mai có thể chọn chịu trách nhiệm cho gia đình cô ấy, sao không hề nghĩ tôi cũng cần có trách nhiệm cho gia đình tôi?

Tôi đưa tay vuốt má cô ấy, lau đi những giọt nước mắt đang chảy dài. Tôi nói:

- Giữ gìn sức khỏe nhé!

Tôi không nói: “Anh sẽ chờ em.” nữa. Tôi không dám hứa một việc mà mình không chắc làm được.

Tôi mang trái tim đau ê ẩm trở về, không phải vì cô ấy hết yêu tôi hay vì tôi hết yêu cô ấy. Chúng tôi chỉ là hai người yêu nhau nhưng lại nhìn về hai hướng khác nhau mà thôi.
Có những cặp đôi buộc phải dừng hành trình tình yêu của mình vì số phận, vì một người mãi mãi ra đi. Sẽ thật khó đẻ có thể chấp nhận, thật khó để vượt qua nỗi nhớ nhưng rồi vết thương, nỗi mất mát là tột cùng nhất chỉ có thời gian mới có thể xoa dịu được. Hãy coi sự mất mát ấy là điểm dừng mang tên Hạnh Phúc và tiếp tục sống tốt vì cuộc đời của cả người kia!... 


"Em đừng hỏi anh rằng anh sẽ yêu ai…Hãy cho anh thêm thời gian để bình tĩnh hơn, để anh có thể sắp xếp những nỗi nhớ về em ngăn nắp lại rồi anh sẽ lại yêu. Anh sẽ nhớ em lắm đấy. Anh chẳng biết anh phải vượt qua như thế nào, nhưng hi vọng của anh là tia sáng nhỏ nhoi kia, dù nhỏ nhoi anh vẫn hi vọng, anh vẫn sẽ sống để em nhìn thấy người đàn ông em đã từng yêu mạnh mẽ đến nhường nào... Ai cũng có quyền theo đuổi hạnh phúc bằng những cách riêng của mình. Mặc cho thời gian có dài bao lâu đi chăng nữa, rồi hạnh phúc cũng sẽ đến."

Lá thư trong tuần: Tháng 6 – anh đưa em về với biển 

Gửi em, cô gái của lòng anh.

Ngày… tháng 6 năm 2012

Hôm nay anh thấy em, cô gái nhỏ bé đã đi lạc vào tim anh trong phút chốc. Anh không biết em cứ đứng mãi bên bờ biển ấy để làm gì, chỉ biết rằng ánh mắt ấy long lanh như có giọt mưa đọng bên ô kính mờ.anh đứng nhìn em – cô gái xa lạ - em đứng nhìn biển trong hư vô – anh cứ đứng – em cũng vẫn đứng đó… biển chiều thổi em về đâu vậy?

Tháng 6, anh vội vã lên xe chạy trốn cái nóng của thành phố, anh về với biển. Tháng 6, chắc em cũng giống như anh chỉ có điều em về nơi đây cho đõ mệt thôi đúng không?

Anh xin lỗi khi cứ dành cả ngày để bám theo em.

Em khó chịu với anh đến thế hả?Cũng chỉ là anh muốn nhìn em chút thôi mà.

Ngày… tháng 6 năm 2012

Giờ thì anh biết theo đổi một cô gái như em thật là mệt, cả tuần nghỉ lễ bên bờ biển của chúng ta chỉ có những cái chau mày, những ánh mắt khó chịu em dành cho anh. 

Nhưng anh không sợ, bằng mọi cách anh sẽ theo em, em ghét anh cũng được. Anh trót thích em mất rồi.

Anh sẽ theo em đến bao giờ anh không theo được nữa thì thôi! Theo mãi anh cũng bằng lòng…!

Ngày… tháng 6 năm 2013

Gần một năm mình yêu nhau rồi đấy em! Thời gian đúng là chẳng chiều lòng người bao giờ em nhỉ.

Hôm nay anh sẽ đưa em ra biển, nơi mà anh đã ‘’trúng đạn’’ từ em ngày trước ấy.

Cảm ơn em, cô gái của lòng anh.Cảm ơn vì em đã yêu anh, để anh nhận thấy xung quanh anh còn có quá nhiều tuyệt vời mà bấy lâu nay anh chẳng hề quan tâm.

Em, cô gái của lòng anh, bên anh thêm nữa nhé. Em hãy dựa vào anh những lúc em thấy yếu lòng, hãy nắm tay để thấy mình không còn lạc lõng giữa bao nhiêu con người nữa. Anh đây, anh sẽ che chở cho em đến khi nào đó… Nhưng còn lâu lắm, tin anh đi.

Và chỉ cần em nói em nhớ biển, anh sẽ đưa em về với biển, cô gái không sinh ra nơi có biển nhưng luôn thuộc về biển, em có biết anh yêu em nhiều đến thế nào không?Yêu em.Vậy thôi.

Ngồi bên anh, em nén mình trong thinh lặng, em bảo biển đẹp nhất là về đêm, khi mà em chỉ có thể thấy mùi biển lên lỏi vào trong hơi thở, khi nhìn vào màu đen kia chỉ có tiếng anh thở bon chen trong tiếng sóng dạt vào bờ… Xa xa đâu đó em thấy trái đất thật tròn khi cho em gặp anh!

Nhưng em à, biển đêm của em luôn chan chứa nhiều lắm những hi vọng từ những tia sáng mập mờ phía xa kia của những đoàn tàu ra khơi. Hi vọng của anh cũng như thế thôi, là thứ ánh sáng nhỏ bé nhưng đủ để chiếu sáng ca một góc trời. 

Anh cõng em đi trên dải cát dài mãi, em cười nói trong thích thú. Nhưng em hơi mập đấy nhé… anh đau hết cả lưng rồi này, cô gái của lòng anh, cô gái của biển đêm!
Ngày… tháng 6 năm 2014.

Em dựa vào vai anh, nghe tiếng em thở, anh xiết chặt em hơn. Hôn nhẹ lên trán em, anh thấy hôm nay biển ngột ngạt quá, có cái gì đó là vô hình cứ đè nén lên anh, nặng quá…!

Hai năm trôi qua, em bên anh, ta bên nhau như đã từ lâu không thể tách rời. Nhưng hôm nay anh đưa em tới đây, bờ biển của năm nào không phải để ta kỉ niệm hai năm yêu nhau mà là để em dễ thở hơn, để em thấy hết mệt và để em thấy biển của em.

Nắm chặt tay anh, em cười rồi bảo:

‘’Em có nên tiếp tục hi vọng không anh? Biển đêm của em hôm nay buồn quá, em chẳng nhìn thấy những ánh sáng nho nhỏ phía cuối chân trời kia nữa rồi…’’

‘’Em không thấy nhưng em có thể cảm nhận thấy mà, ánh sáng ấy giống như mùi biển mà em vẫn thường thấy, nhắm mắt lại và cảm nhận em sẽ thấy... Anh không muốn em buông xuôi, cô gái của lòng anh, nắm chặt tay anh và gần anh thêm thật lâu có được không?’’

‘’Đêm nay, em không muốn thấy gì khác ngoài anh. Em chỉ thấy anh thôi. Mình anh. Bởi vì em rất yêu anh, em cũng rất rất hạnh phúc khi có anh…’’

Chưa dứt lời em đã vội buông tay anh. Em đi mất, anh muốn xiết em chặt hơn anh muốn giữ em ở lại nơi đây với anh… Nhưng anh xin lỗi vì không giữ nổi em.

Hai năm qua, một mình em, em đứng giữa vạch tử thần. Một mình em can đảm chịu đựng cho những lần điều trị hóa chất lên cơ thể nhỏ bé. Còn anh, anh chỉ có thể để em dựa vào, chỉ có thể nắm tay em để em thấy anh luôn ở đây, luôn nơi này…

Giá mà anh có thể đổi đường chỉ tay anh cho em, để em được sống lâu hơn nữa, để em được trở về với biển đêm thêm nhiều lần nữa. Em mong manh quá, gió biển mang em đi trong đêm giông, cơn gió biển lạnh đến nao lòng…

Anh sẽ nhớ em lắm đấy. Anh chẳng biết anh phải vượt qua như thế nào, nhưng hi vọng của anh là tia sáng nhỏ nhoi kia, dù nhỏ nhoi anh vẫn hi vọng, anh vẫn sẽ sống để em nhìn thấy người đàn ông em đã từng yêu mạnh mẽ đến nhường nào. 

Hãy đi về phía biển đêm em nhé, nơi có ánh sáng của anh soi dẫn lối em đi. Và hãy trở về với anh theo làn gió biển để anh thấy quanh anh hơi thở của em…

Nắm tay anh thêm chút nữa rồi hãy đi.

Hôn em.

Ngày…tháng 6 năm 2015

Tháng 6 năm nay anh đưa em về với biển.

Và anh thấy đâu đây vương mùi biển của năm nào, cô gái của lòng anh à! Anh nhắm mắt lại, anh thấy gió lùa tai anh, cơn gió ấm áp như em bên anh…

Tháng 6 này, không còn tóc em bay bay trong gió, không còn nụ cười ai tan theo tiếng sóng vỗ, không còn cô gái thích đứng ngắm biển một mình, không còn ai ôm nhẹ lấy anh từ phía sau… Không còn em…

Tháng 6 về, anh đưa em về với biển.Về với những gì đã qua, về với yêu thương chưa kịp phai nhòa trong anh.

Nơi ấy có nắng không em? Nơi ấy, em có biển của riêng mình chứ?

Em đừng hỏi anh rằng anh sẽ yêu ai…Hãy cho anh thêm thời gian để bình tĩnh hơn, để anh có thể sắp xếp những nỗi nhớ về em ngăn nắp lại rồi anh sẽ lại yêu. Anh không biết cô gái ấy như nào, nhưng anh không muốn cô ấy vội vã xa rời anh như em đã từng, như thế anh đau lắm…

Biển đêm nay chỉ có anh thôi, em thấy anh không? Nơi thiên đường ấy em không còn đau nữa chứ? Em có bình yên không – người anh yêu?
Anh nhớ em. 

Tháng 6 này anh nhớ em, biển kia cũng muốn gọi tên em, chỉ là em không còn nơi đây nữa. 

Chúng ta sẽ đứng ở hai miền thế giới khác nhau mãi mãi. Nhưng tháng 6 về anh vẫn sẽ đưa em đến với biển nơi có linh hồn của em đã từng…

Có những kí ức thật đẹp mà anh cần trân trọng giống như em vậy, hồi ức đẹp ấy anh sẽ giữ mãi nơi đây.

Biển tháng 6, nơi có những tiếng sóng chôn vùi đi tình yêu của hai con người đã từng được sống và được yêu trong hạnh phúc dù có ngắn ngủi…

Em hãy vui lên nhé, anh ở đây sẽ vẫn giữ trong tim mình một chút thôi là em nhưng sẽ giữ đến mãi sau này, cô gái của lòng anh – yêu em – hôn em.

Và sẽ còn nhiều nữa những tháng 6 về sau…


Điểm dừng hạnh phúc 

Anh à! Vậy là đã hơn 5 năm kể từ ngày anh rời xa em. Một khoảng thời gian khá dài, không có anh bên cạnh nhưng em thấy mình không hề yếu đuối như em tưởng. Khi không anh, em cũng có thể mạnh mẽ như vậy.

Em ước gì tất cả mọi chuyện chỉ là một giấc mơ dài, chỉ cần mở mắt ra thì mọi chuyện vẫn như cũ, và anh vẫn ở bên cạnh em.

Mọi người bảo em hãy sống và phải nhìn về tương lai chứ đừng vì cái quá khứ đã qua không bao giờ trở lại. Nhưng em không thể làm vậy được. Khi mà mỗi lần nghĩ đến tương lai thì em chỉ cảm thấy trước mắt em hiện lên một lớp sương mờ mịt. Vì vậy em lại quay đầu và nhìn về quá khứ. Nơi có anh, có em và những kỉ niệm chan chứa được lưu giữ nơi từng con chữ.

Em đã từng chẳng tin vào cái tình yêu đẹp như mơ chỉ có trong phim ảnh đó. Vì em không tin vào thứu hạnh phúc quá dễ dàng như thế. Vậy nên trước anh, em chưa từng yêu ai và chưa từng tin tình yêu lại đến với mình.

Em bướng bỉnh, cứ cho rằng độc thân là tốt nhất. Trong 3 năm quen nhau, dù đã biết mình thích anh nhưng khi anh tỏ tình em vẫn thờ ơ. Anh vẫn dịu dàng, kiên nhẫn như thế, không hề ép buộc hay hối thúc em. Cho đến những tháng ngày đi du học, ở một đất nước xa lạ, em mới biết mình nhớ anh thế nào, yêu anh nhiều bao nhiêu.

Em còn nhớ vẻ mặt ngây ngốc của anh khi em đồng ý lấy anh.

Sau đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhất nhất của cuộc đời. Em đã nghĩ rằng chúng mình sẽ mãi hạnh phúc như vậy.


Rõ ràng là anh vẫn luôn khoẻ mạnh, tại sao căn bệnh quái ác lại khiến anh suy sụp nhanh như thế?

Mới hôm qua anh còn cùng em việc chuẩn bị phòng cho con, bức tường sơn màu xanh cho con trai, đèn ngủ ấm áp. Mọi thứ anh chuẩn bị chu đáo để đón đứa con yêu đầu đời.

Mỗi đêm, anh lại thì thầm không biết bao lời xin lỗi đến em và con.

Thế nhưng, mọi việc xảy ra quá chóng vánh và bất ngờ. Anh còn chưa được thấy con của chúng ta, chưa được nghe con trai gọi một tiếng “ba”.

Anh đi, chuỗi ngày hạnh phúc của chúng mình cũng vỡ tan.

Em đặt tên cho con là Hoài Anh, nghĩa là nhớ anh. Mẹ bảo thằng bé giống anh hồi nhỏ, nhưng hiếu động và nghịch ngợm hơn nhiều. Con cũng có hỏi về ba, em nói với con rằng ba nó rất tốt, rất yêu nó, như mẹ vậy… Nhìn con khôn lớn từng ngày em rất vui, chắc anh cũng vậy đúng không?

Em cảm thấy mình như trở về hồi còn độc thân vậy, chỉ là cảm giác khi làm việc gì cũng không còn như trước đây nữa.. Nhưng giờ em đã có anh và có Hoài Anh – con của chúng ta.

Độc thân nhưng không cô đơn thì vẫn ổn anh nhỉ?

Anh à! Em cũng không hề cô đơn đâu. Đôi khi em thấy mình lạc lõng giữa những buổi chiều tấp nập xe qua lại. Em lại ao ước được ngồi sau xe anh, được ôm anh như ngày xưa. Trở về với ngôi nhà đầy ắp kỉ niệm, em như được quay lại những tháng ngày hạnh phúc. Tiếng cười anh còn vọng lại, chiếc ghế anh vẫn hay ngồi. Và tiếng của con yêu gọi “mẹ” giúp em thêm vững vàng. Em có Hoài Anh, gia đình, bạn bè, người thân, mỗi khi gặp khó khăn họ sẽ ở bên cạnh em, giúp đỡ em, mỗi ngày trôi qua đều rất bình yên.

Anh biết không? Em đã từng nghĩ đến một gia đình mới, tìm một người bố tốt cho con chúng ta. Nhưng em không đủ kiên nhẫn để tìm một người như anh. Đối với em, cuộc sống bây giờ là tốt rồi, mặc dù nó không nguyên vẹn như khi có anh. Nhưng vẫn còn hạnh phúc.

Điểm đến của người ta trong cuộc sống này chính là hạnh phúc. Và ai cũng có quyền theo đuổi hạnh phúc bằng những cách riêng của mình. Đâu phải độc thân, thì sẽ cô đơn đâu, độc thân nhưng họ hạnh phúc.

Em biết cuộc đời này rất công bằng, nhất định ai rồi cũng có hạnh phúc của riêng mình. Mặc cho thời gian có dài bao lâu đi chăng nữa, rồi hạnh phúc cũng đến.


Em sẽ sống thật tốt bởi vì phải sống cả cuộc đời của anh 

Anh thân yêu!

Em viết cho anh giữa những ngày tháng tư. Nắng đã vàng như trải một lớp mật ong mịn màng xuống lòng phố. Hàng cây sấu già lắc lư ngững chùm hoa nho nhỏ xinh xinh vẫy vẫy trong gió thoảng. Tự nhiên như là nắng và gió vậy, em nhớ anh…

Không biết anh có đọc được những dòng này không nữa nhưng em lúc nào cũng nghĩ rằng anh đang ở bên em. Trên bàn làm việc, trong phòng ngủ của em vẫn đặt ảnh của anh. Với em anh vẫn rất gần dù là đã rất xa…

Em không còn là con bé ngây ngô của anh ngày nào. Giờ em đã là một “bà chị” trong phòng làm việc, giữa những em trẻ trung đầy ăp ắp nhựa sống. Em cũng tự thấy mình đã trưởng thành hơn không giống những lúc nhõng nhẽo ngồi trên xe đạp bắt anh dắt đi dọc các con đường. Em đã học cách sống tự lập mà không có anh mặc dù phải trải qua rất nhiều khó khăn. Em vẫn làm việc, vẫn ngồi tư lự bên tách cà phê những chiều thứ sáu. Ngắm phố xá, ngắm những đôi tình nhân dặt dìu đưa đưa đón đón. Ngắm những gia đình chở nhau đi ăn hàng sau một tuần làm việc đầy căng thẳng và đây là những lúc giành thời gian để yêu thương. Và một điều thật lạ là em không thấy lòng mình trống vắng mà lại thật nhẹ nhàng. Có lẽ em đã cảm nhận được hạnh phúc của họ, và niềm hạnh phúc ấy đã lan tỏa cả vào trong em, đúng không anh?


Đã hơn mười năm rồi phải không anh? Quá khứ như một thước phim mà khi người ta muốn quên thì nó cứ tự quay trở lại. Và em đã không chọn cách để quên anh. Em đã tưởng mình gục ngã sau sự ra đi của anh. Bố anh đã vực em dậy. Ông bảo em rằng: “ Con trai bác đã chọn cái chết để giành sự sống cho cháu. Cháu hãy can đảm lên, hãy sống cả phần của nó với cháu nhé.” Em đã gượng đứng lên nhưng phải mất một thời gian dài. Nhưng em không thể quên được vòng tay thật chặt che chắn cho em trên chuyến xe khách định mệnh ấy. Anh là cuộc sống của em nhưng bây giờ em lại là người mang cả cuộc đời của anh trên vai. Anh có thấy mình thật bất công khi đã làm như thế?

Phố đã lên đèn và lại chuyển động với vô vàn xe cộ. Em trở về với căn phòng của mình, với cái máy tính cũ mèm mà viết, mà tìm niềm vui trong công việc. Sáng thứ bảy có hôm em phải dậy sớm mà nấu cháo với nhóm tình nguyện và đem đến bệnh viện Bạch Mai phát cho những bệnh nhân nghèo. Nhìn những ánh mắt rưng rưng những bàn tay đầy chai sạn đỡ lấy những bát cháo mà em không cầm lòng nổi. Cuộc sống vẫn còn nhiều điều bất hạnh hơn mình phải không anh?

Sáng chủ nhật, nhóm em lại bận bịu với việc ra chợ Đồng Xuân thuyết phục các chủ buôn ủng hộ các hàng tồn như quần áo giày dép, chăn màn cho vùng cao. Rồi với quỹ tiết kiệm của công ty hàng tháng, chúng em mua được những mặt hàng giá rẻ, những chiếc quần áo mặc dù đã lỗi mốt nhưng vẫn thật quý với người dân vùng cao. Có tuần chúng em đi từ chiều thứ sáu, với những chuyến hàng nặng tình nghĩa.


Em đã được lên Hà Giang, nơi đầy đá và gió, nơi đây bà con dân tộc còn khổ lắm. Em đã ngạc nhiên khi thấy những đứa trẻ chỉ độc một manh áo mà đi học giữa mùa đông. Có đứa cõng em đi chơi giữa cái rét cắt da cắt thịt mà đứa em không có được đến một manh quần. Và em đã khóc khi nhìn thấy nụ cười của chúng trong niềm vui vỡ òa nhận được quần áo mới. Chúng làm em nhớ cảm giác xưa kia khi được mẹ mua cho quần áo mới vào mỗi dịp tết đến. Chúng em đến cả các điểm trường xa xôi để mắc cho các em từng cái quạt điện đến cái máy tính. Có khi xe ô tô không đi qua được vì đường hẹp, chúng em lại cùng nhau khuân từng thứ một. Mệt nhưng mà thấy thật vui vì mình làm được một điều gì đó có ý nghĩa.

Đến Hà Giang, em lạc vào cả một thung lũng hoa tam giác mạch- thứ hoa chỉ nở vào tháng mười, tháng mười một hàng năm. Đứng trước cả ngàn đóa hoa nhỏ bé xinh xinh em chợt ước gì có anh ở bên. Hái một chùm hoa kết thành vòng nguyệt quế mang màu tim tím phớt hồng, em đội lêm mỏm đá rêu phủ như đội lên tình yêu của em. Dù em ở đâu, anh cũng mãi ở bên, phải không anh?

Em vẫn đến nhà anh vào mỗi dịp lễ Tết. Vết thương đã dần lành trong lòng bố mẹ anh. Có lẽ thấy em vẫn lầm lũi đi về, bố anh đã chạnh lòng nhắc em đi tìm lấy một hạnh phúc. Nhưng em không thấy mình bất hạnh, em vẫn đang có được những niềm vui nho nhỏ từ cuộc sống và công việc của mình. Em cũng không thể đến với một ai đó mà lừa dối rằng yêu họ để ru ngủ trong vỏ bọc của một mái ấm gia đình. 

Em sẽ vẫn sống như vậy, vẫn làm việc và tận hưởng niềm vui từ nụ cười của những con người còn nhiều bất hạnh. Vì rằng em còn phải sống cả cuộc đời của anh nữa, cho nên phải sống sao cho thật ý nghĩa phải không anh?